Công dụng của cây Ngưu tất

Còn có tên là cây cỏ xước, hoài ngưu tất.

Tên khoa học Achyranthes bidentata Blume.

Thuộc họ Giền Amaranthaceae.

Ta dùng rễ phơi hay sấy khô – Radix Achyranthis bidentatae – của cây ngưu tất.

Sách cổ nói: vị thuốc giống đầu gối con trâu nên gọi là ngưu tất (ngưu là trâu, tất là đầu gối).

Cây Ngưu tất

  1. Mô tả cây

Cây ngưu tất là một loại cỏ xước cho nên người ta nhầm với cây cỏ xước Achyranthes aspera L. Cỏ có thân mảnh, hơi vuông, thường chỉ cao 1m, cũng có khi tới 2m. Lá mọc đối có cuống, dài 5 – 12cm, rộng 2 – 4cm, phiến lá hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên. Cụm hoa mọc thành bông ổ đầu cành hoặc kẽ lá.

      2. Phân bố, thu hái và chế biến

Hiện ta đang trồng giống ngưu tất di thực của Trung Quốc có rễ to hơn cây cỏ xước mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Có thể tìm loại cỏ xước ở nước ta dùng làm ngưu tất được. Rễ đào về rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

      3. Thành phần hóa học

Trong rễ ngưu tất người ta chiết xuất ra một tác dụng trực tiếp kích thích dây thần kinh phía dưới bụng.

– Theo Kinh Lợi Bân, Viện nghiên cứu quốc lập Bắc Kinh, Sở nghiên cứu sinh lý học (1937) thì ngưu tất có tác dụng như sau:

  1. Đối với động vật đã gây mê, ngưu tất có thể gây giảm huyết áp tạm thời, sau vài phút trở lại bình thường nhưng sau lại hơi tăng.
  2. Ngưu tất có tác dụng làm yếu sức co bóp của tim ếch.
  3. Ngưu tất có tác dụng ức chế sự co bóp của khúc tá tràng.
  4. Ngưu tất hơi có tác dụng làm lợi tiểu.
  5. Liều cao, ngưu tất có tác dụng kích thích sự vận động của tử cung.

Chất saponin của ngưu tất có tác dụng phá huyết và làm cho vón anbumin (albumin).

Ecdysteron và inokosteron có tác dụng làm kìm hãm sự phát triển của một số sâu bọ.

Đoàn Thị Nhu phát hiện ngưu tất có tác dụng hạ cholesterol trong máu và tác dụng hạ huyết áp.

      4. Công dụng và liều dùng

Tính vị theo đông y: Vị chua, đắng, bình, không độc, vào hai kinh can và thận. Có tác dụng phá huyết, hành ứ (sống), bổ can thận, mạnh gân cốt (chế biến chín).

Trong nhân dân, ngưu tất được dùng trong bệnh viêm khớp, đau bụng, kinh nguyệt khó khăn.

Ngày dùng 3 – 9g dưới dạng thuốc sắc.

Ngưới có thai không được dùng.

Viên ngưu tất (0,25 cao khô) hoặc thuốc ống (4g ngưu tất khô/ống) chữa bệnh cholesterol máu cao, huyết áp cao, vữa xơ động mạch. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 viên hoặc 1 ống sau bữa ăn. Dùng liền 1- 2 tháng lại nghỉ.

Chú thích:

Hồng căn thảo là 1 loại ngưu tất có thân lá và rễ đỏ cùng loài Achyranthes bidentata Blume.

Ta còn dùng loại cỏ xước cũng gọi là ngưu tất Achyranthes aspera L. cùng một công dụng.

Nên chú ý thêm.

Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học

0/5 (0 Reviews)

Your Comment